Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay114
mod_vvisit_counterHôm qua410
mod_vvisit_counterTuần này715
mod_vvisit_counterTuần trước3866
mod_vvisit_counterTháng này10779
mod_vvisit_counterTháng trước14473
mod_vvisit_counterAll days575929

Lịch Âm Dương

Truyện Phật Giáo
Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 02 Tháng 9 2014 15:29

 

 

Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh

 

Bản Chữ Hán: Ngài Hạ Liên Cư Hội Tập

Việt Dịch: Hòa Thượng Thích Đức Niệm

Cư Sĩ Minh Chánh

Giọng Đọc: Vọng Tây Cư Sĩ

Xem Video
Nhấp vào đây Download Video

TỤNG KINH VÔ LƯỢNG THỌ FULL

Bản Chữ Hán: Ngài Hạ Liên Cư Hội Tập

Việt Dịch: Hòa Thượng Thích Đức Niệm

ĐỌC TỤNG: HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THOÁT.

Nghe Và Tải MP3 link mediafie

Xem Video
Nhấp vào đây Download Video

 

Xem Các Kinh Sách Khác

Link Download Full

CUOC DOI DUC PHAT THICHCAMAUNI (Truyện Thơ) Nhấp Tải

DE_TU_QUY_022009 Nhấp Tải

Xem Video
Nhấp vào đây Download Video

HoiHuongOanGiaTraiChu Nhấp Tải

Kinh Dai Thua Vo Luong Tho (Han Viet) Nhấp Tải

Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Tâm Tịnh dịch) Nhấp Tải , Link 2 du phong

LoiKhaiThi_AnQuangDaiSu Nhấp Tải Nhấp Tải

Xem Video 1
Nhấp vào đây Download Video
Xem Video 2
Nhấp vào đây Download Video

Tổng Hợp MP3 THUYẾT GIẢNG KINH VÔ LƯỢNG THỌ FULL

Người Giảng: Pháp Sư Tịnh Không

 

Pháp Sư Tịnh Không: http://www.tinhthuquan.com/tinhkhongps.htm
Các video trên các bạn muốn download về tốt nhất nên cài CocCoc Mới Hướng Dẫn.

Nghe Thuyết Giảng Kinh Vô Lượng Thọ trực tuyến chỉ cần download file (khoảng 14Kb) về nghe nguồn: Phuong44dltt..


Download. (1998-2006 lần 10) : http://www.mediafire.com/?jj29831j0voxcfw
(2009-???? lần 11) : http://www.mediafire.com/?m78j8hwbqodosya

Link 2 Kinh Vô Lượng Thọ lần thứ 11 (Phật Đà gíao dục học hội Hồng Kông
04 Tháng 5 2010
)
Nguồn Tịnh Thư Quán

Link download mediafile PhatThuyetKinh_VLT1.rar

Link download mediafile PhatThuyetKinh_VLT2.rar

Link download mediafile PhatThuyetKinh_VLT3.rar

Đối Với File Nén Khi Download Về xong Các Bạn Nên Giải Nén Để Nghe. (HD: Click Phím Phải Chọn dòng thứ 3 Extract Here...)

 

Download Hình Phật Giáo

Hình Phật THiCHCAMAUNI

HÌNH PHẬT & BỒ TÁT TỔNG HỢP

wallpaper Phật Giáo

 

MP3 THUYẾT GIẢNG KHÁC

(Nguồn: daotrangtuyduyen.blogspot.com)

Lá Thư Tịnh Độ (NXB Tôn Giáo)
Tác giả: Ấn Quang Đại Sư / Dịch giả: Thích Thiền Tâm
Diễn đọc: TS. Quảng Âm
Link: http://www.mediafire.com/folder/9us66wx6hdy69

 

Đường Về Cực Lạc (NXB Tôn Giáo - 2001)
Tác giả: HT. Thích Trí Tịnh
Diễn đọc: TS. Quảng Âm
Link: http://www.mediafire.com/?ymw9njc3el1kk

Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải
Diễn đọc: TS. Quảng Âm
Link: http://www.mediafire.com/?bhvuhfun28phg

Liên Hoa Hóa Sanh (NXB Tôn Giáo)
Chủ giảng: PS. Đạo Chứng / Biên dịch: Trần Tuấn Mẫn
Diễn đọc: TS. Quảng Âm
Link: http://www.mediafire.com/?nz60vda7tf63r

Liên Trì Cảnh Sách (NXB Văn Hóa Sài Gòn)
Lời khai thị của PS. Viên Nhân / Dịch giả: Thích Quảng Ánh
Diễn đọc: TS. Quảng Âm
Link: http://www.mediafire.com/?omeeana6vkrah

Download Tổng Hợp MKV: http://www.mediafire.com/?zt7kiis2fr219

Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh + Phật Thuyết A Di Đà Kinh Hợp San (gồm tiếng Hán, phiên âm Hán Việt & Quan Thoại) - bản ấn hành chánh thức của Tịnh Tông Los Angeles:
http://www.mediafire.com/?9fdc1ixwozxkplh

---//---

Cập nhật ngày Thứ bảy, 11 Tháng 10 2014 19:36
 
32 Ứng Hóa Thân Bồ Tát Quan Thế Âm PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ bảy, 30 Tháng 8 2014 13:31
Quán Thế Âm Bồ Tát, một vị đại sĩ vạn năng, thân thương của loài người ở Ta Bà mà bất cứ đệ tử nào của đức Phật cũng đều hướng tâm kính lễ, cầu nguyện Ngài. Trong Diệu pháp liên hoa kinh, đức Phật Thích ca đã giải thích rõ cho Vô Tận Ý Bồ Tát về ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm là do vị Bồ tát này khi nghe âm thanh của chúng sanh xưng danh hiệu mình thì bèn tầm thanh để cứu khổ. Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, một lòng xưng danh Ngài thì ngay khi đó, Bồ Tát Quán Thế Âm bèn xem xét âm thanh ấy, khiến cho họ đều được giải thoát. Cũng theo kinh này thì Quán Thế Âm Bồ tát có 32 hóa thân khác là thân Phật, Bích Chi, Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên , Long, Dạ xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân, Thần chấp Kim Cang. Sau này lại có thêm 33 hóa thân khác của Quán Âm, những hóa thân này không dựa vào Kinh sách mà chỉ dựa vào tư tưởng hóa độ lục đạo kết hợp với 33 Ứng hóa thân trên pha trộn với tín ngưỡng dân gian của Nhật Bản và Trung Hoa mà tạo thành, đó là các hồng danh:

1. Dương Liễu Quán Âm: còn có tên gọi khác là Dược Vương Quán Âm, bổn nguyện của Ngài là bạt trừ cứu độ những bệnh khổ của chúng sanh, vì chúng sanh thân nhiều khổ nạn nên Ngài cầm cành dương. Dương liễu mềm mại biểu trưng cho đức tướng ôn hòa nhẫn nhục của Quán Thế Âm Bồ tát. Thân mặc y màu trắng ngà, hình tượng của Ngài biểu hiện sự kỳ nguyện phước đức.

2. Long Đầu Quán Âm: là Quán Thế Âm Bồ tát ngồi trên lưng rồng. Rồng là vua trong các loài thú để biểu thị cho uy lực của Quán Thế Âm Bồ tát; Long Vương đến mang mây mưa sấm chớp chiếu diệu khắp trời đất, thấm nhuần muôn vật, tất cả đều tán thán uy lực của Long vương. Ngài hiện thân ngồi kết già trên mình rồng thuyết pháp cho chúng sanh.

 

3. Trì Kinh Quán Âm: còn gọi là Thanh Văn Quán Âm. Thanh Văn là nghe Phật thuyết pháp được khai ngộ mà xuất gia. “người đáng dùng thân Thanh Văn được độ thoát Ngài liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp”. Hình tượng của Ngài biểu hiện sự an tường.

 

4. Viên Quang Quán Âm: đây là Quán Thế Âm Bồ tát lòng từ ái viên mãn, biểu trưng bằng ánh quang minh quanh thân. “sáng thanh tịnh không nhơ, huệ nhựt phá các tối, hay tiêu tai khói lửa, khắp soi sáng thế gian”. Thân Ngài được cảm thọ qua đoạn kinh này, hiện tướng thuyết pháp.

 

5. Du Hý Quán Âm: Quán Thế Âm Bồ tát giáo hóa chúng sanh viên thông vô ngại, không câu nệ vào thời gian và nơi chốn, biểu hiện tướng du hý tự tại. Thân màu hồng, Ngài ngoảnh mặt chăm chú nhìn chúng sanh.

 

 

Cập nhật ngày Thứ tư, 17 Tháng 9 2014 21:06
 
Truyện Phật Giáo PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 26 Tháng 8 2014 20:40
1. BẤT THỐI TÂM

Thuở xưa có một người, tuy không được ai giáo hóa cho, nhưng vì đụng chạm trong đời, bị chuyện thế sự dầy vò, chuyện thị phi nhân ngã làm cho khốn đốn quá nhiều nên vô cùng phiền não và đâm có những suy nghĩ như sau: một con người trầm luân trong cõi trần lao này, cuối cùng được cái gì ? Trong vũ trụ mênh mông con người bé nhỏ li ti chỉ như một hạt cát của sông Hằng, thế mà suốt ngày tâm trí chỉ dùng trong việc tranh đoạt hoặc lừa gạt dối trá bên ngoài, đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời mang theo được gì ? Một đời người như thế, thử hỏi có ý nghĩa nào không ?



Ông lại nghĩ đến đời sống của người tu, đó là những người làm việc vì chúng sinh, đời sống như thế thì cao cả biết bao! Những người tu ít nhất không bị thế sự trần lao làm cho khốn đốn phiền não, hơn nữa, họ còn có thể đắc được thánh quả của sự giải thoát trong tương lai. Nghĩ đến đây, ông rời bỏ gia đình đi tu làm sa môn.

Vị sa môn này từ sáng sớm đến chiều tối chăm chỉ tu học, không phút nào dám giải đãi. Chỉ cần nhớ lại đời sống của ông lúc trước và cái quả vị thánh mà ông nhắm đến trong tương lai cũng đủ thôi thúc ông chuyên cần học đạo.

Nhưng năm này sang tháng khác đã trôi qua mà ông vẫn chưa chứng đắc được quả vị nào, không lẽ công phu sâu dày như thế mà vẫn không đúng đạo hay sao ? Ông càng nghĩ càng lo sợ, hẳn là mình đã lầm đường lạc lối hay đang bị ma phá ? Ôi ! Chẳng thà trở về nhà làm kiếp phàm phu cho rồi, cần gì phải tu hành khổ sở như thế này!

Ông lấy quyết định sửa soạn bỏ về nhà rồi bỗng lại do dự. Sự thành công hay thất bại có khi được định đoạt chỉ trong một niệm: bỏ đi thì mấy năm cần khổ học đạo vừa qua coi như đổ xuống sống xuống biển, hy vọng ngộ đạo coi như mất vĩnh viễn ; còn nếu lấy lại tinh thần để tiếp tục con đường tu hành, biết đâu có thể thành tựu một ngày nào đó chăng ?

Trong lúc những ý nghĩ nên đi hay nên ở như thế đang quay cuồng trong đầu ông, thì có một vị thần cây trong núi thấy thế cảm thấy xúc động, vì trong kiếp trước đã từng có nhân duyên với ông. Thần cây rất lo lắng cho ông, biết rằng nếu ông trở về thì sẽ vĩnh viễn trôi nổi trong biển rộng sinh tử.

Thần cây bèn dùng chút thần thông thử thách, biết đâu xoay chuyển được ý chí của ông và giúp cho ông thành tựu đạo nghiệp ? Thần cây bèn hóa thành một vị tỳ kheo ni xinh đẹp, ăn mặc diêm dúa, đeo đầy nữ trang châu báu, ưỡn ẹo làm dáng đến trước mặt vị sa môn.

Vị sa môn thấy thế không chịu được, bèn nghiêm sắc mặt lại mà mắng rằng:

- Cô là tỳ kheo ni, là người xuất gia học đạo, tại sao lại mặc quần áo của người thế tục ? Tại sao lại làm bộ làm tịch để làm quáng mắt người khác ?

Hóa nhân tỳ kheo ni trả lời:

- Chuyện ấy có quan hệ gì ? Quần áo, nữ trang chỉ là huyễn hóa, phấn son chỉ là mầu sắc, thì có gì đáng tham luyến đâu ? Tất cả đều là giả tướng, chính thân của ông bộ cũng không đồng một thể hay sao ? Trước mắt thì thấy có tuổi thanh xuân, có sức khỏe dồi dào, nhưng một khi vô thường đến, đất nước lửa gió phân tán rồi, thì chủ của thân ấy ở đâu ? Vô tướng, thật tướng, chân như vốn bất sinh bất diệt, biết rõ các pháp bổn lai là như thế thì chứng đạo có chi là khó khăn ?

Một con người sống trên thế giới này giống như mặt trăng trên trời vậy: một mình một bóng, đến một mình và đi cũng một mình, trên thân đến không mang một thứ gì và cũng sẽ không một thứ gì trên thân mà đi, không có vật chi thuộc về mình một cách chân thật.

Chúng sinh ngu si, trong những hoàn cảnh hư huyễn không thật mà sinh tham luyến, mê say đến nỗi tự ràng buộc mình vào đó. Không phải cảnh giới mê hoặc con người, mà chính là con người tự đắm chìm vào cảnh giới ; không phải phiền não trói buộc con người mà chính là con người tự đi tìm phiền não để cột ràng mình vào. Vì mê lầm mà tham ái cảnh vật hư huyễn không thật nên suốt một đời sống như mộng, như say, như si, mà còn ngày đêm oán trời hận người. Họ không hiểu cái khổ không phải là cái gì tự có, mà là do ác nghiệp của chính họ chiêu cảm đến.

Chúng sinh thật đáng thương. Họ ngẫu nhiên tạo được vài nhân thiện, chiêu cảm được vài phúc báo, thế là dương dương tự đắc mà không hiểu rằng phúc báo cũng chỉ là giả tạm. Một khi nếm cái mùi giả tướng của thế gian rồi tham luyến nó, thì sẽ thấy cái vui sướng rất khó mà đi theo thân mình mãi mãi, ngược lại cái tai họa thì như bóng theo hình, một giây một khắc cũng không rời. Muốn cầu cái vui sướng tự tại vĩnh viễn thì phải liễu ngộ vấn đề sinh tử, phải vĩnh lìa tham dục và tạo tác.

Trong tam giới, dĩ nhiên cũng có những vị được rất nhiều phúc báo ở cõi trời, nhưng những vị này rồi cũng có lúc hưởng hết phúc và phải bị đọa lạc. Pháp Phật có nói: người ở trong gia đình như ngồi trong lao tù, mà cái tầng trời cao nhất của ba cõi cũng chỉ như lao tù. Chỉ có cái học vô lậu mà chư Phật và chư bồ tát đã tu học, tức là quán chiếu cái tướng "không" của chư pháp, và dừng bỏ cái thấy lệch lạc là có sự sai biệt giữa ta và người, mới là cái cảnh giới thường hằng an vui cứu cánh.

Hóa nhân tỳ kheo ni nói thao thao bất tuyệt một hồi, như một thùng nước sạch dội lên tâm trí của vị sa môn. Ông suy xét kỹ lưỡng ý nghĩa của từng câu nói mới nghe. Ðúng thế, cái giả tướng vốn do tứ đại hòa hợp, chúng sinh vì quá ư say đắm cái giả tướng này mà tự hại lấy mình.

Khi giác ngộ được rằng pháp tính vốn là không, con người sống ở trên thế giới này như một du khách đi qua xứ khác chơi, thì nhìn chúng sinh trong mười phương thật sự không thể nói được là có thân có sơ.

Vị sa môn nhờ thế mà tâm hồn trở nên cởi mở, xả bỏ hết mọi quái ngại. Ý nguyện ban đầu kiên cố trở lại, ông chăm chỉ tu học và về sau đắc được đại tự tại.



2. BÀ LÃO BỘC

Trưởng giả Tu Ðạt tại thành Xá Vệ nước Ấn Ðộ là một vị "đại thí giả", hễ có người nghèo khổ bần cùng đến cầu xin ông cứu giúp, ông liền làm cho người ấy được toại ý. Nhất là đối với Tam Bảo thì ông lại càng cung kính tôn thờ, thường thường cúng dường Đức Phật và chư tăng.


Trong nhà ông trưởng giả Tu Ðạt có một bà lão bộc làm công, rất trung thành với chủ và làm việc rất siêng năng, nên được trưởng giả một lòng tín nhiệm. Chìa khóa nhà kho, vựa lúa đều do một tay bà nắm giữ.

Bà lão bộc này tính nết rất keo kiết, mỗi khi thấy chủ nhân lấy từ kho ra bao nhiêu là tiền bạc của cải để bố thí cho người là trong lòng bà không khỏi cảm thấy tiếc rẻ.

Nhưng điều làm cho bà bất mãn hơn cả là lúc bà thấy Đức Phật và chư vị đệ tử đến nhà trưởng lão thọ cúng dường. Bà thấy lúc đó trưởng giả vô cùng nhiệt thành, hoan hỉ nghênh tiếp và cúng dường Đức Phật. Tâm ganh tị như thiêu như đốt khiến bà ghét Đức Phật thậm tệ. Có một hôm bà còn lập ác nguyện rằng:

- Tôi vĩnh viễn không muốn thấy mặt Phật, không muốn nghe ông ta thuyết pháp cũng không muốn thấy mặt mấy ông tỳ kheo.



Thật là chuyện tốt không ai hay, mà chuyện xấu thì ai cũng biết, nên tin bà lão bộc phát ác nguyện chẳng mấy chốc lan truyền khắp mọi nơi.

Lúc ấy, hoàng hậu Mạt Lợi nghe kể lại, rất lấy làm phật ý. Hoàng hậu biết trưởng giả Tu Ðạt là một vị Phật tử thuần thành, thì làm sao lại dung dưỡng trong nhà một bà nô bộc bất kính Tam Bảo như thế ? Do đó, hoàng hậu hạ lệnh bắt trưởng giả phải cho bà mượn bà lão bộc đến hoàng cung giúp việc nhân dịp bà lập đàn trai cúng dường Đức Phật.

Trưởng giả Tu Ðạt dĩ nhiên không dám trái lệnh hoàng hậu, đằng này mục đích lại là giúp cho việc cúng dường Đức Phật thì ông lại càng tình nguyện hơn nữa. Trưởng giả lập tức dùng mâm vàng đựng đầy trân châu, sai bà lão bộc đem đến hoàng cung để cúng dường Đức Phật. Hoàng hậu ra ý, chủ nhân truyền lệnh, bà lão bộc đâu dám không tuân! Khi Mạt Lợi phu nhân thấy bà lão bộc này, bà nghĩ phải thỉnh Đức Phật dạy dỗ con người tà kiến như thế mới được!

Bà lão bộc đem trân châu đến dâng lên hoàng hậu rồi, vừa mới quay người tính lui đi thì Đức Phật từ cửa chính bước vào, theo sau là các vị đệ tử của Ngài. Bà lão thấy Đức Phật bước vào đâm ra bối rối, cất bước lên tính trốn bằng cửa sau, thì quái lạ thay, Đức Phật cũng lại từ cửa sau bước vào. Lần này bà cuống cuồng lên, tính chạy bằng cửa bên hông nhà, nhưng cũng lại thấy Đức Phật đứng ngay ở ngưỡng cửa bên hông. Bà lão bộc thấy tứ phương tám hướng đâu đâu cũng có Đức Phật và chư vị đệ tử đứng, bà tiến hay lùi gì cũng khó khăn, đành phủ phục xuống đất. Nhưng trên mặt đất, bà vẫn thấy tôn tượng của Thế Tôn. Bà vội vàng dùng hai bay bịt kín lấy mắt, để mắt mình không gặp hình ảnh của Đức Phật nữa nhưng trong khoảnh khắc, mười ngón tay của bà đều hiện lên hình Phật. Bà không cần biết hậu quả ra sao, ba chân bốn cẳng chạy về, trốn vào một căn nhà nhỏ, những tưởng là sẽ không còn thấy Đức Phật nữa. Nhưng như trước, trong gian phòng đen tối ấy, đâu đâu cũng có Đức Phật nên bà lão bộc rất lấy làm đau khổ.

Lại nói đến Đức Phật Thích Ca Mâu ni ở hoàng cung, Ngài không nói gì về thái độ vô lễ của bà lão bộc, chờ thọ cúng xong xuôi mới nói với La Hầu La:

- Bây giờ con có thể đi hóa độ cho bà lão ban nãy. Bà ấy với con có nhân duyên lớn, bà ấy sẽ tiếp đón con nồng hậu và sẽ chấp nhận sự giáo hóa của con.

Tôn giả La Hầu La tuân lệnh Đức Phật đi ngay, ngài từ biệt Như Lai rồi đến nhà bà lão bộc nọ, đứng trước nhà kêu cửa.

Bà lão đang trốn trong nhà, chợt nghe một giọng nói hòa nhã thân thiết bèn vội vàng chạy ra mở cửa nhìn xem là ai. Có lẽ trong lòng còn hoảng hốt, lại hoa mắt nên thấy ngài La Hầu La, bà ngỡ là người từ cõi trời xuống.

Bà lễ lậy và đối xử với La Hầu La như thần thánh, tôn giả bèn dùng thái độ trang nghiêm thuyết cho bà lão nghe pháp thập thiện.

Bà lão nghe rồi, hối hận những lỗi lầm đã tạo trong quá khứ, và nói:

- Ngài là chúa tể cõi trời, ngài quả là cao cả, vì thế nhân chúng con mà thuyết thiện pháp vi diệu để lợi lạc chúng sinh, ngài thật là phi thường hơn mấy ông tỳ kheo kia nhiều!

Lúc ấy, La Hầu La biết bà đã bớt tâm ngã mạn, mới trả lời:

- Pháp của Phật mới là thanh tịnh, mới là từ bi quảng đại. Pháp mà tôi mới nói ban nãy là do thầy tôi dạy. Phận tôi nhỏ nhoi không đáng kể, làm sao so sánh với bậc đại thánh Như Lai được?

Lão bà nghe những lời ấy, định thần nhìn kỹ lại ngài La Hầu La, lúc đó mới tàm quý hổ thẹn không biết làm sao để chui xuống đất. Bà hối hận, bà tự trách, rồi bà khẩn cầu ngài La Hầu La giúp bà sám hối với Đức Phật và can thiệp cho bà được xuất gia.

Phật pháp vốn bình đẳng, giữa người cao sang như vua chúa hay người bần tiện như nô tỳ không hề có sự sai khác.

Bà lão bộc nọ, sau khi đến trước mặt Phật sám hối rồi, bèn xuống tóc xuất gia làm tỳ kheo ni.

Bà chuyên tâm tu học nên chứng được quả vị rất mau lẹ. Có người thấy thế, bèn đến xin Đức Phật thuyết giảng về nhân duyên quá khứ của bà lão bộc này.

- Xa xưa kia, thời Phật Bảo Cái Ðăng Vương có một vị thái tử xuất gia học đạo với Như Lai. Thật ra, vị hoàng tử này tu hành trì giới rất tinh chuyên, nhưng lại lầm lạc theo đường tà. Về sau hoàng tử gặp một vị tỳ kheo, vị tỳ kheo này thuyết pháp dẫn đạo rất hay, nhưng hoàng tử không những không tán thán còn đem lời phỉ báng, bởi vì tuy trì giới nhưng lại rất ngã mạn tà kiến. Do đó chết rồi đọa ác đạo, chịu đủ hết mọi sự thống khổ trong địa ngục, nay tuy sinh thân người nhưng lại chịu phận nô bộc.

Vị hoàng tử thời nọ chính là bà lão bộc trong kiếp này và vị tỳ kheo bị hủy báng kia chính là ta trong quá khứ.

Các vị đệ tử của Đức Phật nghe xong, họ thấy rõ ràng là không thể tạo khẩu nghiệp, nhất là hủy báng người khác, vì quả báo xấu xa của tội này, dẫu có tu hành trì giới cũng không ngăn chận được.



3. Phật Cắt Thịt Mình Thế Thịt Chim Bồ Câu

Trời quang muôn dặm, ánh dương chiếu khắp, cảnh sắc tươi vui. Đức Phật đi đến ven rừng, bỗng thấy một con chim ưng đang đuổi theo chim bồ câu trắng. Đứng trước nguy cơ bị mất mạng, bồ câu trắng thấy Phật liền sà vào lòng ngài để lánh nạn. Đức Phật liền bảo vệ, che chở cho nó.

 

 
Địa Ngục Biến Tướng Đồ PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 26 Tháng 8 2014 20:31

 

GIANG DẬT TỬ TIÊN SINH HỌA
Bức tranh Địa Ngục Biến Tướng Đồ này đã dung hợp với sự kết tinh của nghệ thuật và văn hóa. Tác giả dùng hết nghị lực, tuổi tác của ông đã gần cổ hy, trải qua thời gian một năm mới hoàn thành tác phẩm to lớn này, có thể nói là trước chưa từng có. Toàn bức tranh này hiếm có nhất là bề dài 50 thước, chỉ riêng về nhân vật thì có hơn ngàn người. Ngoài ra còn có hoa cỏ chim muông thú vật sơn thủy v.v… Trên thành tích nghệ thuật đã đi đến chỗ gọi là đỉnh cao tối thượng mà bên trong đã bao gồm nghĩa lý thâm sâu đủ để tịnh hóa nhân tâm và đoan chính phong tục là một vị nghệ thuật gia dùng nghệ thuật đối với toàn thể nhân loại là một sự giáo hóa tốt nhất.

TIỂU SỬ TÁC GIẢ

Giang Dật Tử tiên sinh sanh năm 1938, vào năm 1964 lần đầu tiên tổ chức triển lãm, năm sau với bức tranh điền đơn phục quốc đồ được bộ giáo dục trao tặng giải thưởng tác phẩm này đại biểu cho quốc gia tặng cho Tổng thống dân quốc Đại hàn ông Phác Chánh Hy đến thăm viếng. Hiện nay vẫn còn cất giữ ở viện bảo tàng quốc gia Hán Thành, từ đây về sau mỗi năm đều được giải thưởng. Khi ông năm 30 tuổi đã giác ngộ công danh bên ngoài chỉ là hư huyễn không thật, cho nên ông ẩn cư vẽ tranh. Lần đầu tiên lúc triển lãm, lúc ấy ân sư là lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam vì ông chỉ dạy nghệ thuật không nên chỉ là trang sức để thưởng thức nghệ thuật nên có đạo khí, có thể di phong chánh tục tịnh hóa nhân tâm vì vậy tác phẩm tranh vẽ và điêu khắc của ông tuy không lời nhưng bên trong nó đã hàm chứa nghĩa lý sâu xa vô tận.
Thời cổ xưa tác phẩm Xuân Thu của Khổng Tử làm cho bọn loạn thần tặc tử khiếp sợ. Ngày nay bức tranh địa ngục biến tướng đồ xuất hiện cũng hy vọng có thể đánh thức phần tử trí thức và nghệ thuật văn nhân, nhân vật chính trị và lương tri của người làm việc giữa đại chúng biết được mình đối với thời đại và nhân loại nên gánh vác sứ mạng và trách nhiệm, tự mình phát huy sức ảnh hưởng của mặt chính, hy vọng nhân tâm có thể đôn hậu khiêm tốn chất phác, đây là sứ mạng của tác giả, lấy vẽ tranh để hóa đạo nhân tâm.
Địa Ngục Biến Tướng Đồ đồ hiệu đạo lãm, nhân sanh khổ đoản sanh mạng vô thường. Một khi đã tắt thở thì sanh mạng không còn, con người khi đã có sanh thì không tránh khỏi cái chết, sau khi chết đi về đâu, chúng ta không thể không biết, có thể vãng sanh cực lạc hay không? Hoặc sanh thiên hoặc đọa địa ngục hoặc đọa ngạ quỉ hoặc đọa vào súc sanh hoặc trở lại làm người.  Tất cả đều là mối lo âu đời này đã tạo những nghiệp quả. Địa Ngục Biến Tướng Đồ là giới thiệu cho mọi người biết rõ đọa xuống địa ngục phải chuốc lấy những chân tướng của tội báo, đồng thời cũng thuyết minh địa ngục quả báo hoàn toàn là tự làm tự chịu, chẳng phải là vua Diêm La định tội, cho nên chúng tôi trong tâm rất hy vọng sau khi đã xem bức họa đồ này có thể đánh thức được mọi người hiểu rõ thân người đáng quý, khởi tâm động niệm tạo tác tội nghiệp đọa địa ngục thật là đáng sợ. Cho nên trong kinh dạy rằng: chân thành phát lồ sám hối tức có thể xa lìa tội báo.  Chúng ta cùng nhau khuyến khích.



1. A Di Đà Phật và chư Thánh chúng tiếp dẫn vãng sanh cực lạc thế giới. Đời người quan trọng nhất không có gì sánh bằng là đời này có thể cầu sanh Tịnh Độ, liễu thoát sanh tử vĩnh viễn thoát khỏi cái khổ luân hồi mà Tây Phương Cực Lạc Thế Giới là Tịnh Địa thù thắng nhất, là A Di Đà Phật với nguyện lực không có gì sánh bằng đã thành tựu. Mục đích là phải giúp cho tất cả chúng sanh lìa khổ được vui. Chỉ cần chịu tin có thể nguyện có thể hành, lão thật niệm Phật đầy đủ Tín Nguyện Hạnh tam tư lương, mà y giáo phụng hành, một đời hành trì không thay đổi. Lúc sắp mạng chung nhất định được Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn.
Được viên mãn thành tựu như trong bức tranh đã chỉ rõ:
Niệm Phật lâm chung kiến bửu đài,
Bửu phang bửu cái mãn không bài,
Di Đà Thế Chí Quan Âm đẳng
Hiệp chưởng tương tùy quy khứ lai.
2. Cần tu thập thiện được sanh thiên, không được vãng sanh cực lạc nhưng một đời tu thiện tích đức lâm chung cũng được vãng sanh Thiên đạo hưởng Thiên phước. Nhưng ít nhất phải đầy đủ tiêu chuẩn của thập thiện. Cái gì gọi là thập thiện: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không tham, không sân, không si.
3. Nhờ vào Ngũ Giới được thân người. Phật dạy thân người khó được giống như rùa biển gặp khúc cây có lỗ, lại nói một khi mất thân người vạn kiếp khó được lại. Làm thế nào đời sau chắc chắn có thể được lại thân người, điều kiện căn bản nhất phải tu trì đầy đủ Ngũ Giới. Cái gì gọi là ngũ giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Còn như giàu sang nghèo hèn đều do tạo tác thiện ác nhiều ít mà định. Ngạn ngữ nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tạo giả thị”. Chúng ta phải rõ ràng minh bạch cái đạo lý này.

4. Tạo tác thập ác thì linh hồn quy đến địa phủ. Cái gì gọi là thập ác, phản diện của thập thiện tức là thập ác. Đời người chỉ có mấy mươi năm, trong một đời nếu không biết tu học thiện nghiệp, không minh bạch nhân quả sự lý, không biết tu thiện tích đức, thoáng qua vô thường đã đến hồn quy địa phủ, hối hận đã trễ.
Cập nhật ngày Thứ ba, 26 Tháng 8 2014 20:39
 
Nhân Quả Luân Hồi Tạp Lục PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Chủ nhật, 23 Tháng 12 2012 13:57

Nhân Quả Luân Hồi Tạp Lục

ThíchThiềnTâm

Nguồn: Cố Hòa thượng ThíchThiềnTâm


Ai nói luân hồi chuyện vẩn vơ,
Người – dê chuyển kiếp lẹ không ngờ,
Đốt lò hương hỏi niềm xưa cũ,
Nghe giọng triều âm tỉnh giấc mơ.

Chuyện Mạnh Phu Nhơn

Điền Canh Dã, làm quan Đề Đốc tỉnh Quảng Tây, vợ là Mạnh Phu Nhơn, bẩm tính hiền lương, nhưng chẳng may mất sớm.
Khi Điền Canh Dã trên thuyền ngắm cảnh ở trấn Lương Châu, đêm trăng ngồi một mình nơi nha dinh, bỗng mơ màng như vào mộng, thấy phu nhơn dung mạo cực đẹp, từ trên ngọn cây phơi phới bay xuống. Điền Canh Dã mừng rỡ cùng nhau hỏi chuyện hàn huyên như thuở bình sanh.
Phu nhơn bảo: "Thiếp vốn là một vị thiên nữ, do túc duyên đời trước nên nay làm bạn với tướng công, duyên trần đã mãn, lại trở về ngôi cũ. Nay bởi còn chút duyên thừa nên mới đến viếng thăm."
Điền Canh Dã hỏi: "Tôi kết cuộc ở quan tước nào?"
Phu nhơn đáp: "Quan vị còn tăng, không phải chỉ chừng ấy mà thôi."
Tôi thọ được bao lâu?
Đáp: Cơ trời khó nói, tướng công lúc chết nên ở nơi hương lý, không ở chốn quan nha, không tại quán dịch bên đường, cũng không mất giữa chiến trận, thời đến sẽ tự rõ.
Hỏi: Sau khi tôi chết, còn được thấy nhau nữa chăng?
Đáp: Việc này đều do tướng công, nếu cố gắng tu, khi sanh lên cõi trời tất sẽ được gặp, bằng không chắc sẽ khó hy vọng.
Sau Điền Canh Dã đi chinh phạt giặc Miêu trở về, già yếu chết dưới trướng binh.

Lai Tinh Hải

Lai Tinh Hải còn có tên là Lai Phục, người ở Tam Nguyên xứ Hiệp Tây. Ông thi đỗ tiến sĩ vào khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vạn Lịch. Cha ông là Lai Thiếu Sâm, tánh tình điềm đạm khiêm nhường cũng là một bậc tiến sĩ.
Khi Lai Tinh Hải chưa sanh, trong làng có một vị tăng pháp danh Lai phục, dốt chữ, chỉ nhờ người dạy học thuộc lòng được phẩm Phổ Môn và Bát Nhã Tâm Kinh, ngoài ra không biết chi cả. Cách làng hơn mười dặm, có khoảng sông cạn đầy cát, đến mùa mưa nước tràn ngập, người đi lại rất làm khổ sở. Sư Lai Phục không nề nhọc nhằn, tự thân đứng ra đắp đường làm cầu, có ai duyên trợ cũng đều tạ. Do đấy, xa gần đều gọi là sư Phật Hòa Thượng. Có người thấy sư khổ hạnh, dốt nát, gọi là Chuyết Hòa Thượng (Hòa Thượng quê vụng). Cũng có kẻ hiềm sư không chịu đi đám tụng kinh, nên gọi là Lại Hòa Thượng (Hòa Thượng Làm Biếng). Duy tiến sĩ Lai Thiếu Sâm kính trọng sư, nên gọi là Hữu Hạnh Hòa Thượng.
Sư tánh không thích cầu cạnh người, Lai Thiếu Sâm biết ý, thỉnh thoảng đến chùa nghe sư tụng hai thứ kinh và cúng dường vài gạo cùng các thức ăn.
Một hôm Lai Thiếu Sâm đang ngồi ở thính đường xử việc chợt thấy Lai Phục đi vào. Lai Thiếu Sâm vội vã đứng lên đón rước, nhưng sư không đoái hoài đến, đi thẳng vào nhà trong; kêu hỏi cũng chẳng đáp, Lai Thiếu Sâm lấy làm lạ, thì giây lát có tin truyền ra là phu nhơn sanh được một đứa bé trai. Ông vội sai người hỏi thăm, mới hay sư vừa hóa kiếp. Lai Thiếu Sâm biết sư đã thác sanh làm con mình, nên đặt ký danh là Lai Phục.
Thuở niên thiếu, Lai Phục cực thông minh, đọc rất nhiều sách, tinh cả nghề thuốc và bách công kỹ nghệ. Lớn lên thi đỗ làm quan các nơi,kẻ nghe biết đến cầu trị bịnh, cứu được rất nhiều người. Khi lớn tuổi, ông cáo bệnh về quê, thường nói với người rằng: "Ta vốn là kẻ xuất gia, đi trên đường hoạn lộ đã lâu; e quên mất bản lai, biết làm sao đây?"
Lúc sắp chết ông lại nói: "Nay ta muốn trở về để nối thành công nghiệp cũ." Nói xong liền qua đời.

Hạ Phùng Thánh

Quan tướng Quốc đời Minh là Hạ Phùng Thánh, trong niên hiệu Sùng Trinh, cùng gia nhơn tử miền quê lên Kinh sư. Thuyền vừa đến mũi Tầm Ngư, thuộc dòng Cửu Giang, sóng to gió lớn chợt nổi lên. Hạ Phùng Thánh vội mặc triều phục, cầm hốt ra trước thuyền khấn vái. Khi ấy người trên thuyền thấy giữa hư không có vị thần mặc áo lụa đỏ, xách xon quỷ đen liệng xuống nước, liền đó sóng gió dừng lặng. Hạ Phùng Thánh cho thuyền ghé vào bờ, thiết lễ cúng nơi miếu Đại Vương ở bên sông, để đáp ơn thần phò hộ. Do duyên sự này, từ đó về sau dân chúng càng tin tưởng, đem hương đèn, dê lợn dâng cúng mỗi ngày thêm nhiều.
NămSùng Trinh thứ mười ba, Kỳ Thân Vương muốn phục hưng đạo tràng Quy Ngưỡng, cho rước Tam Muội Quang luật sư vào đất Sở.
Thuyền qua Cửu Giang, Tam Muội Quang mơ thấy một vị áo mão trang nghiêm đến thưa rằng: "Tôi là Tống Đại Vương, thủy thần ở sông Cửu Giang. Kiếp trước tôi cùng Tam Muội Quang và Hạ Phùng Thánh, ba người là bạn đồng tu ở chốn thâm sơn. Tam Muội Quang không mê là chánh nhơn, nên đời này là bậc cao tăng. Hạ Phùng Thánh do phước duyên, lên đến ngôi tể tướng. Còn tôi, vì một niệm sai lầm, trở thành vị thần hưởng huyết thực. Trước đây, Hạ Phùng Thánh bị con yêu nơi cây đại thọ ở mũi Tầm Ngư nổi sóng muốn lật thuyền, tôi vì nghĩ đến tiền duyên nên ra tay giúp đỡ. Không ngờ do sự việc đó mà dân chúng sát sanh đến cúng tế ngày càng thêm nhiều, e rằng tương lai tất bị đọa vào địa ngục. Ngày mai Tam Muội Quang đi ngang qua đây, xin ghé vào miếu, từ bi thọ lý cho. Lại xin công bố việc này cho bốn phương hay biết, để về sau dân chúng đừng sát sanh cúng tế nữa. Như thế, niềm hân cảm mối thâm ân sẽ vô hạn." Sau khi tỉnh dậy Tam Muội Quang ghi nhớ và nhứt nhứt làm y theo lời.
Từ đó về sau, giang thuyền qua lại mũi Tầm Ngư, quanh năm đều được yên ổn, kẻ lữ hành chỉ dùng trai thực hoa quả cúng tế mà thôi. Chuyện này cùng với việc thần hồ Cùng Đinh thác mộng cho vị sư con vua nước An Tức cầu cứu độ, có phần tương đồng. (Trích lục Trì Bắc Ngẩu Đàm).

Chuyện Vị Lão Tăng

Thế gian diễn hứa bi hoan sạ
Dục nhập tham thiền vạn kiếp không.
Thời Trung Hoa Dân Quốc cư sĩ Uông Hiểu Viên một hôm ra chợ, thấy vị lão tăng đứng ngó sững vào hàng thịt rưng rưng nước mắt, cư sĩ lấy làm lạ hỏi duyên cớ. Lão tăng đáp:
Câu chuyện rất dài xin lược thuật phần đại khái. Tôi nhớ được việc hai kiếp về trước. Đời thứ nhất, tôi là một tên đồ tể. Hơn ba mươi tuổi mãn phần, hồn bị người bắt trói đưa đi. Minh quan trách là nghiệp sát nặng, cho quỷ áp giải đến Ty chuyển luân để thọ ác báo. Lúc bị xô xuống con sông đen tối, tâm thức tôi hoảng hốt mơ màng, thoạt tiên thật nóng như lửa đốt khó nhẫn, kế đó là cảm hơi mát mẻ; tỉnh ra thì mình đã sanh làm kiếp súc vật trong chuồng heo. Sau khi dứt sữa, thấy thức ăn không được sạch, lòng cùng biết nhàm gớm, nhưng vì đói quá gan ruột cồn cào, nên bất đắc dĩ phải nhắm mắt nuốt vào. Sau lần lần thông tiếng nói của loài heo, thường cũng hỏi han nhau, trong đồng loại cũng có lắm kẻ nhớ biết kiếp trước của mình, song không thể nói cho người hiểu được. Đại để đều nhận thức mình sẽ bị giết, nên có lúc rên rỉ, đôi mắt ướt, là tỏ dấu bi sầu. Loài heo thân thể thô nặng, vào mùa hạ rất nóng khổ, chỉ tìm vũng bùn nằm vùi mới đỡ, song cũng không thường có được. Bởi lông thưa và cứng, nên mùa đông lại khổ vì lạnh, thân thể giá buốt, thấy loài dê chó lông nhuyễn dày, hằng mơ ước, xem như loài thú tiên. Đến lúc bị bắt tự biết mình không khỏi, nhưng sợ quá nhảy chạy càng mong kéo hưỡn mạng sống được phút nào hay phút nấy. Khi bị trói rút bốn chân khiêng đi, dây khuyết đau đến tận xương. Lúc người bỏ lên xe chở về, thân hình cùng đồng loại chồng chất đè lên nhau, máu huyết ứ đọng, gần như muốn đứt. Khi đến nhà lò, bị liệng xuống đất, gan ruột tựa hồ tan nát. Nhìn thấy dao bén, chảo vạt để hai bên, lòng bắt run sợ, không biết khi bị giết sẽ đau đớn như thế nào?! Lúc thọc huyết, thân tâm sảng sốt rụng rời, thấy ánh dao chớp lên liền nhắm mắt không dám nhìn thẳng. Khi đồ tể ấn lưỡi dao vào cổ, rung lắc mạnh cho huyết chảy xuống bồn, ban đầu còn kêu la, sau chỉ rên nhỏ trong cổ họng cho đến máu chảy đến tắt hơi, sự đau khổ thật không thể hình trạng!
Bây giờ hoảng hốt mê ly như say như mộng, chừng tỉnh dậy thấy mình đã thành hình người. Minh quan xét thấy kiếp trước còn có nghiệp lành, nên cho chuyển sanh làm người, tức là thân đời nay đây. Vừa rồi tôi thấy loài heo bị giết thương nó đau đớn, nhớ lại kiếp trước mình đã chịu khổ độc, rồi tiếc cho người đồ tể này tương lai cũng bị nỗi khổ đó, ba mối niệm giao cảm, bất giác thương tâm không biết rơi lệ lúc nào!
Nói xong, quay mặt bỏ đi. Lúc ấy, người xung quanh nghe nói, chỉ trỏ bàn tán phân vân. Bác hàng thịt được biết câu chuyện, sanh lòng sợ hãi, từ đó về sau đổi nghề đi bán rau. (Trích lục Phật học chỉ nam.)

Thái Thú Họ Ngưu

Miền Tích Châu, có Uông Tả Viên tiên sinh biệt hiệu là Sĩ Khang. Trong niên hiệu Gia Khánh, Uông Tả Viên thi đỗ tiến sĩ, được bổ làm huyện lịnh ở Tứ Xuyên. Dưới quyền quản lãnh của tiên sinh có viên Thái thú họ Ngưu, vốn là hàng đồng niên và đã chiếm Á Nguyên ở bản tỉnh.
Quan Thái thú này, bàn tay mặt là tay người, còn bên trái là móng ngựa. Ông nhớ rõ ba kiếp trước, tường thuật với tiên sinh rằng:
Đời trước tôi là một vị tướng, vì đánh giặc Miêu tàn sát quá nhiều, nên Minh quan phạt cho chuyển kiếp làm ngựa. Khi sanh ra đã đổi thành thân ngựa trong tàu, tự bị thương la ré nhảy cắn, không ăn mà chết. Minh ty quở là cưỡng lệnh, đánh phạt, rồi cũng cho chuyển sanh làm ngựa như cũ. Lần này, vì sợ trách phạt, nên không dám cầu chết, khi lớn lên được một vị tướng quan chọn lựa để cỡi. Viên tướng này tánh tình nóng nảy hung bạo, nên thân mình hằng bị roi vọt, trăm điều thống khổ.
Một hôm, vị tướng đánh giặc thua quân địch đuổi theo rất gấp. Tôi chở chủ tướng bôn đào, thoạt chạy đến một khe núi rộng ước hơn trượng, bờ bên kia đá nhọn dựng chập chồng. Lúc ấy tôi nghĩ: "Nếu nhảy qua mình sẽ phải chết, song chủ tướng có thể đào sinh. Như không vượt qua, tất chủ bị binh giặc theo giết." Nghĩ xong, liều mình cố hết sức nhảy qua khe núi, bụng bị đá nhọn đâm, rách ruột mà chết. Vị tướng nhờ đó thoát nạn.
Sau khi tôi chết, Minh ty khen là trung nghĩa, hứa cho chuyển thân người lại là văn quan, lên đến bậc tứ phẩm. Trước kia lúc tôi sắp làm ngựa, quỷ tốt lấy da ngựa khoác vào mình, đến khi trở lại làm người, lại lột da ngựa ấy đi. Nhưng vì tôi đã hai kiếp làm ngựa, da dính khắn vào thân, quỷ dùng dao lột ra, đau đến tận xương tủy. Khi dao rạch đến móng lại càng đau đớn, không thể nhẫn, nhân mới lén lút dấu móng chân đàng trước. Quỷ tốt cũng không để ý phát giác. Chẳng ngờ vì duyên cớ đó, mà chuyển sanh bàn tay lại thành móng ngựa.
Kể chuyện xong, Thái Thú bảo Uông Tả Viên rằng: Lộc vị của tôi chỉ đến chừng này, mạng sống cũng chẳng còn bao lâu, đến ngày tháng ấy… sẽ từ trần." Sau việc quả nhiên.

Dung Ai bút ký.

Giết Dê Hại Vợ

Lưu Đạo Nguyên làm quan huyện tại Bông Khê, lúc giải chức trên đường về ở trọ nhà họ Tần. Đêm ấy ông nằm mộng thấy một thiếu phụ đến khóc thưa: "Tôi vốn là vợ của họ Tần nhà này. Vì lỡ tay đánh chết người thiếp, nên bị Minh quan xử phải đền mạng, lại phạt làm dê. Nay tôi ở trong chuồng, sáng sớm sẽ bị giết để đãi ông. Tôi chết vẫn không tiếc, nhưng vì trong bụng hiện mang thai dê con. Nếu nó nhân đó mà chết theo, thì tội lỗi càng thêm nặng."
Lưu Đạo Nguyên đợi đến sáng thuật lại, thì dê cái đã bị giết. Cả nhà nghe nói khóc rống, nhét dê con trở vào bụng dê cái rồi đem đi chôn.

Phạm Dâm Trả Quả

Trần Sanh ở Động Đình nhà rất nghèo, nên đem vợ và em trai di cư đến Châu Kinh. Nơi đây thương khách tới lui tấp nập. Trần Sanh tánh hay chìu chuộng nịnh bợ lại khéo mua bán, nên chẳng mấy năm gia tư có đến ngàn lượng vàng.
Một hôm ông bỗng vướng bệnh nằm liệt vài ngày, rồi chỗi dậy bảo vợ cùng em rằng: "Ba người chúng ta kiếp trước đều là tu sĩ, chung nhau gian dâm một thiếu phụ, rồi giết người chồng. Kẻ cầm giao giết chính là tôi. Nay Minh vương cho quỷ đến bắt, oan trái tất phải đền trải. Bây giờ tôi đi trước còn hai người chắc cũng không thoát khỏi đâu."
Nói xong tự nhổ râu tóc, lấy giao cắt lưỡi mình; lại dùng lấy hai ngón tay móc đôi tròng mắt lôi ra, giây phút liền tắt thở.
Cô vợ và người em mấy ngày sau cũng chết.

Bất Hiếu Đọa Làm Heo

Hầu Nhị ở Kim Đơn vốn là kẻ bất hiếu. Bà mẹ đem gạo giúp đỡ người ăn xin, Hầu Nhị trông thấy nổi giận đánh mẹ và đuổi ra khỏi nhà. Vợ con khóc lóc can gián, y cũng không nghe. Chẳng bao lâu khắp mình Hầu Nhị sanh ghẻ độc lở lói, hành hạ đau nhức cho đến lúc mãn phần.
Sau khi chết, Hầu Nhị về ứng mộng cho thấy bảo rằng: "Do cha ngỗ nghịch bất hiếu nên đọa phạt làm heo ở nhà Trương Nhị nơi cửa Tuyên Võ tại Kinh Sư. Con nên qua đó mà chuộc mạng cha, nếu để trễ e không kịp."
Thức dậy đứa con y theo lời tìm đến nhà Trương Nhị, quả có heo nái vừa mới sanh mấy heo con. Trong đó có một heo con hình thú mặt người, có râu mép, trạng mạo giống cha mình. Đứa con thương khóc thuật lại duyên cớ, nguyện đưa ra mười vạn lạng xin chuộc đem về. Nhưng Trương Nhị không nghe đem heo con ra giết.
Việc nầy xảy ra vào niên hiệu Khang Hy thứ 39 đời Thanh.

Vùi Trong Bếp Lửa

Bên nhà một phú ông ở Hoa Đĩnh có thân cây khô rất to. Ông sắp đốn, thì đêm lại mông thấy một lão nhơn dẫn nhiều người tới, xin hãy thong thả chậm lại ít hôm cho dời đi. Phú ông biết trong cây đó có vật lạ, sai người trèo lên nhìn xem, thì thấy cây đó bọng ruột. Trong bọng cây vô số rắn lạ nằm khoanh. Ông liền bảo đầy tớ đổ dầu đốt cháy cây ấy. Lúc đó hơi tanh hôi bay xa cả dặm, phú ông đắc ý vỗ tay cả cười.
Không bao lâu, ban đêm phú ông thấy có đám lửa to bay vào nhà. Ông gọi gia nhân thức dậy đến cứu chữa, nhưng lại tịnh nhiên không có chi cả. Việc như thế xảy ra nhiều lần rồi đều lặng lẽ, cả nhà không lấy làm lạ. Đêm nọ đứa tớ gái trộm củi đem nấu đồ riêng, bỗng lửa cháy phát đỏ. Phú ông và tất cả gia nhân đều cho là trạng thái cũ, nằm nghỉ luôn không thức dậy. Nhưng lần này cháy thật, cả gia quyến đều bị vùi trong lửa.

Cập nhật ngày Chủ nhật, 23 Tháng 12 2012 14:27
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 Tiếp theo > Cuối >>

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL